HUỲNH THỊ KIM HẢI

HUỲNH THỊ KIM HẢI

HUỲNH THỊ KIM HẢI         

Tên thật: Marie Faustine Anê Huỳnh Thị Kim Hải, bút danh: Trừu Non, sinh ngày 16-10-1944 tại Phủ Cam, Huế.
Thuộc Hội dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân, Huế. Vào tập viện năm 1966; khấn lần đầu: 01-7-1969; khấn trọn đời ngày 29-6-1975. Phục vụ tại Trung tâm Caritas, 38 Tú Xương, Sài Gòn; Cô nhi viện Nước Ngọt, Huế; Trung tâm cô nhi Tam Bình (1975-2001); cộng đoàn Xuân Phương (2001-2007).
Qua đời ngày 02-02-2008, sau một năm nằm bệnh đau đớn trong niềm vui phó thác hiến dâng.
Tác phẩm: Tiếng lòng (di cảo, trên 100 bài thơ).

ĐÂY LỄ DÂNG ĐỜI CON

1. Miệng đời vẫn bảo, nết đất và tính người. Một quy luật cộng sinh, cộng nghiệp giữa nội tâm và ngoại cảnh. Đọc hết tập thơ Tiếng Lòng, tôi từ từ hình dung ra được khuôn dạng miền đất và tâm tình của tác giả, mặc dù chưa một lần quen biết. Người nữ tu làm thơ ấy có cái bút danh rất nhi đồng, rất Thiếu Nhi Thánh Thể – Trừu Non: Chiên con. Một cô gái Huế làm thơ. Một nữ tu thi sĩ. Có chi lạ mô giữa lòng cố đô Huế, miền đất của thi ca.
Thật tình cờ. Sau buổi giao lưu với anh em ca nhạc sĩ nhóm Lửa Hồng (Ý Vũ, Lê Đức Hùng, Khắc Dũng và Lê Việt Dũng) về nhà, tôi nhận được tập thơ và tôi nhâm nhi đọc từng bài. Để thấm vào. Để nghe vang động. Để rung lên cảm xúc…. Thế rồi, bẵng đi thật lâu. Lại tình cờ. Sau đêm nhạc Hải Linh (30-12-2008) tại nhà thờ Phanxicô Đakao, người nhạc sĩ trẻ đồng cảm với thơ Trừu Non nhắc nhở tôi lần nữa. Anh nói với giọng đầy cảm xúc, rằng anh viết mau đi, kẻo đến ngày giỗ Trừu Non rồi đấy. Bàng hoàng một chút. Phóng xe ra ngoại ô để về nhà. Rụng rời tay chân, nhẩm đọc mấy câu thơ Trừu Non viết trong một đêm trắng mỏi mòn:
Thức trắng đêm nay, kể Chúa nghe
Bao nhiêu oan trái lỗi câu thề
Xin Người tha thứ và thương xót
Réo gọi hồn con sớm trở về.
Thì ra, oan trái, lỗi thề đâu chỉ chuyện của lứa đôi thường tình, của kẻ lạc bến trần gian. Tự nhiên tôi nhớ Bissonnette cũng đã có những khoảnh khắc phù hư ở đáy vực chông chênh ấy khi người thốt lên: “De la douleur, voici les minutes sacrées…”[1]
Từ hôm ấy, tôi vừa suy nghĩ vừa viết trong tâm thế cầu nguyện. Bởi thơ của Trừu Non là những Tiếng Lòng bây giờ – sau nỗi chết không rời – mới tự phơi mở ra điều lúc sinh thời cứ ấm ách, rỉ rả tận phương mô. Có lẽ, tôi nghĩ thế, Trừu Non viết âm thầm như một lời kinh cầu nguyện. Dành riêng cho mình. Gửi gắm rất nhạt nhòa phiêu linh nơi những trang nhật ký đời tu? Không chỉ một mình Trừu Non làm công việc con chim tha hạt ấy. Nhiều, nhiều lắm. Nhất là các bông hoa nữ tu. Họ viết thay cho lời muốn nói. Họ viết như một cách thế tâm tình với Chúa, noi theo thánh Gioan Thánh Giá (1542-1591). Trong số ấy, phải kể đến Têrêsa Hài Đồng Giêsu (1873-1897) với Truyện Một Tâm Hồn về con đường nên thánh rất trẻ thơ. Ta nghe thử trích đoạn sau đây:
Em chỉ muốn miệng môi em thành thật
Những lời yêu Bạn Tình Chí Ái Giêsu
Ước gì em là cây sáo vi vu
Trổi lên bài ca Diễm Tình muôn thuở
Những giai điệu của trái tim em đó
Cứ ngân rung những nhịp đập liên hồi
Lửa hỏa hào từ nguồn mạch Ba Ngôi
Đã thiêu đốt, cháy lòng em khao khát.
            (LĐB, Thư Gửi Chị Pauline)
Còn Trừu Non của chúng ta thì cũng rứa. Nàng đã chạm tay vào những dấu đinh, khi ngước nhìn Chúa chết treo trên thánh giá. Trừu Non gặp được thánh Phaolô:
Yêu thánh giá là yêu đời từ bỏ
Bỏ riêng mình để nhận ý Chúa trao
Bỏ mình đi để lời Chúa thấm vào
Để con sống mà không là con sống.
(Yêu, tr. 24)
Không phải khi tột cùng đau khổ, con người mới cầu Chúa. Cả những giây phút đầu tiên của cuộc đời còn nguyên sinh, thanh khiết, Trừu Non đã muốn được như Gioan Tiền Hô trong rừng vắng:
Con mất hút trong tình Cha trao gởi

Con càng bé, Cha càng yêu con, nhé
Con nhỏ dần, Cha lớn mạnh trong con.
(Lời Chúc Phúc, tr. 6)
Đấy là buổi hừng đông, như Isaia thưa chuyện cùng Chúa:
Một buổi sáng, sương nhòa trong nắng nhạt
Người sai tôi gieo vãi giữa hy sinh
Chân tôi bước trong niềm tin Người gửi
Tôi ra đi, ôm kín một cái nhìn….
(Tiếng Gọi Đầu Đời, tr . 61)
Và phải chăng, Trừu Non đã gặp lại Mẹ Têrêsa Calcutta ở những con phố ổ chuột, đói nghèo, bệnh tật?
Từ những bài thơ hồn nhiên từ 1965 đến những lời kinh trải nghiệm suy tư của những năm 2000-2003. Một chặng đường 38 năm đời tu. Một dặm dài thơ 38 năm giấu kín, u hoài. Thơ Trừu Non không có tuổi. Vẫn là cô bé quàng khăn đỏ với câu chuyện cổ tích Thánh Kinh. Vẫn là đứa bé muốn mình vụng dại mãi, để được Chúa dìu dẫn, để được Mẹ Vô Nhiễm mỉm cười, yêu thương, ủ ấp.
Lẽo đẽo đi theo Chúa
Bóng Chúa phủ tình con
Lẽo đẽo theo chân Chúa
Con không thấy mình còn.
(Theo Chúa, tr. 10)
Mẹ hiền Vô Nhiễm của con ơi
Con ước làm sao thấy Mẹ cười
Con ước làm sao say mến Mẹ
Để đời con trọn một niềm vui.
 (Mẹ Hiền Vô Nhiễm, tr. 43)
Thú thật, khi viết những dòng này, tôi có linh cảm về một Trừu Non đang tiêu hao, đang được nung đỏ trong tình yêu của Chúa, trong cái hắt hiu mỏng manh của đời người, gắng sống thêm cái bé bỏng vụt qua.
Bé xin cùng Chúa, nhé
Giữ lấy bé đi thôi
Cho bé được suốt đời
Sống vui trong nhà Chúa.
(Tâm Tình Nhỏ, tr. 48)
3. Xin đừng kiếm tìm triết học, thần học cao siêu trong câu chữ của Trừu Non. Đừng đòi hỏi những cái lớn lao, những điều kỳ diệu nơi thơ Trừu Non. Đầy là khuyết và khuyết là đầy, như Lão Tử đã nói mấy nghìn năm trước. Cứ đọc và thấy thơ Trừu Non là những mảnh vụn, rời rạc, chắp nối. Chúng là những trang nhật ký thơ ghi chép những cái thường ngày (les quotidiens). Từ buổi đầu tiên xa cha mẹ xin gõ cửa nhà dòng. Là những buồn vui và cả những oan trái, ngộ nhận từ xung quanh. Là lễ gần lễ xa. Là an nhiên tĩnh tại. Là hồn trắng trinh, rưng rưng nước mắt hôm khấn dòng. Là ủ ê mỗi đêm về với bóng mình. Là chết đuối ngất ngư một mình trước nhà chầu Thánh Thể… Tất cả Tiếng Lòng ấy của Trừu Non vỡ òa ra trong một ngôn ngữ thơ rất Huế của lăng tẩm hoàng thành, rất nữ tu Vô Nhiễm bên dòng sông Hương mộng mị. Nơi đây yên ả một đời tu. Tôi đã đến đây nhiều lần. Nhưng khi đọc thơ Trừu Non, tôi chạnh nhớ ở đất Phú Xuân huyền thoại này, một thời chưa xa khi Chúa Nguyễn mở cõi phương Nam đã có một cành vàng lá ngọc rao giảng Tin Mừng là Minh Đức Vương Thái Phi. Cái nết đất và cái tính người ấy như một dòng chảy miệt mài, phủ bóng xuống Trừu Non. Cả đến con sông đào An Cựu chảy ngang Nhà Chung Huế cũng là một bến đỗ, mỗi lần Trừu Non lên Gia Hội, phường Đúc, Phủ Cam. Con sông An Cựu nắng đục, mưa trong. Dọc con đường và các phủ kiệt Phan Đình Phùng, Nguyễn Trường Tộ, những vòm cây long nhãn đã nở đầy hoa. Li ti và thơm ngát. Huế đấy. Kim Long, Phú Xuân đấy. Nho nhỏ mà nồng nàn. Như tiếng chim thầm thì trên vòm cây. Như những trái bàng chín rụng dưới chân ai về.
Trong ân tình thấm đẫm
Xin Chúa nhận lễ dâng
Là tình yêu cha mẹ
Là tình yêu hội dòng.
Tôi đọc và hiểu bài thơ khá dài Ơn Sao Trả là lời kinh cảm tạ của Trừu Non dâng lên Chúa, tạ ơn cha mẹ, mang ơn hội dòng. Gần 100 bài thơ đủ thể loại, nhưng chỉ có một nỗi niềm, một Tiếng Lòng. Như thể là thủy chung. Như thể là tín thác một đời tu dâng hiến. Như Trừu Non cầu nguyện lúc cầm bút viết những câu thơ đầu đời:
“Con xin dâng lên Chúa
Những rung động của tâm hồn
Mà thánh khí Cha cầm tay con viết…”
Có lẽ tôi nên ngừng bút thì hơn. Mời bạn đọc yêu thơ Công giáo, yêu thơ nữ tu cứ mở sách này ra mà đọc mà suy mà bay bổng một chút. Kinh Việt Nam là thơ và thơ cũng là kinh cầu nguyện. Làm thơ mà nên thánh đấy… Xin chắp tay hạnh nguyện cho người nữ tu thi sĩ Trừu Non cứ reo vui như trẻ thơ, ở quê trời, gục đầu vào lòng Chúa bao dung.
LÊ ĐÌNH BẢNG
 (Trích theo Lê Đình Bảng, Miền Thơ Kinh Cầu Nguyện, tt. 518-523)
 
 Này đây những phút linh thiêng,
Của đau đớn, của niềm riêng một thời. (TTT dịch)

GIỌT NƯỚC

  •   28/05/2021 03:40:00 AM
  •   Đã xem: 41
  •   Phản hồi: 0

VÒNG TAY YÊU

  •   28/05/2021 03:37:00 AM
  •   Đã xem: 36
  •   Phản hồi: 0

TIẾNG GỌI ĐẦU ĐỜI

  •   28/05/2021 03:34:00 AM
  •   Đã xem: 34
  •   Phản hồi: 0
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây